QUẢ CÂY THẢO QUẢ

Quả cây thảo quả sử dụng trong đông y là quả chín đã phơi khô. Thảo quả là một cây họ gừng, có tên khoa học là Amomum aromaticum Roxb.

Ảnh minh họa

Mô tả quả cây thảo quả

Quả của cây thảo quả có hình bầu dục dài, độ dài của quả vào khoảng 2 – 4,5cm, có đường kính 1,5 cm  – 2,5 cm. Vỏ ngoài của quả cứng, bền có màu nâu hoặc nâu hơi đỏ, lớp vỏ có rãnh và cạnh gờ dọc. Ở đầu mỗi quả đều có một vết tròn nhô lên đó là ví trị của vòi nhụy để lại dấu tích trên quả. Cuống quả nằm ở phần đáy, khi cuống rụng đi để lại sẹo trên vỏ. Bên trong quả thảo quả chia làm 3 ngăn, có vách ngăn màu nâu hoặc hơi vàng. Trong mỗi ngăn có chứa khoảng từ 8 -11 hạt, hạt có hình nón, đa diện đường kính vào khoảng 5mm. Hạt được bao bọc bởi lớp màng, lớp màng có màu trắng mỏng hơi xám. Hạt có một sống noãn có rãnh dọc và một rốn hạt lõm ở đỉnh nhọn. Hạt có vỏ ngoài cứng, nhân bên trong có màu trắng hơi xám, mùi thơm đặc trưng, vị cay, hơi đắng.

Quả thảo quả thường được sử dụng làm gia vị cho các món ăn, nó còn được gọi là nữ hoàng gia vị. Ngoài ra quả thảo quả còn là một vị thuốc quý trong đông y. Cây thảo quả thường mọc hoang ở nhiều nơi, đặc biệt là các tỉnh miền núi như Hoàng Liên Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, các tỉnh Tây Bắc.

Khi quả chín hoặc gần chín sẽ được thu hái sau đó phơi khô hoặc sấy khô. Khi dùng đến mới đem tách vỏ quả để lấy hạt bên trong, nếu bóc từ khi còn tươi thì sẽ mất mùi thơm đặc trưng của quả thảo quả.

Trong quả thảo quả có chứa 1 – 3% là tinh dầu có màu vàng nhạt, có vị cay, nóng, mùi thơm đặc trưng. Người ta thường bào chế quả thảo quả bằng cách: Dùng cám gạo hòa với nước sôi lượng vừa đủ cho dẻo sau đó dùng để bọc lấy quả thảo quả đem nướng, sau khi nướng thì bỏ lớp xác và lớp xơ trắng đi còn lại bảo quản để dùng dần. Hoặc có thể dùng bột mì hòa với nước sôi cho dẻo rồi dùng để bọc quả thảo quả rồi đem nướng, sau khi nước bỏ lớp vỏ ngoài, lấy nhân để dùng dần.

Theo y học cổ truyền, quả thảo quả có vị cay, tính ôn, có tác dụng vào quy kinh tỳ vị thường được sử dụng trong các bài thuốc đông y có tác dụng trục hàn, ráo thấp, tiêu tích, làm ấm bụng, có tác dụng giúp ăn ngon miệng.

Quả thảo quả có thể sử dụng đơn lẻ hoặc kết hợp với nhiều vị thuốc khác, mang lại rất nhiều tác dụng tích cực đối với sức khỏe

Một số bài thuốc từ quả thảo quả

Trị sốt rét

Sử dụng các vị thuốc sau: 4gr thảo quả ngân, 10gr thục phụ tử, 3 lát sinh khương, 3 quả đại táo. Tất cả làm thành một thang thuốc sắc uống đến khi các triệu chứng bệnh sốt rét dứt hẳn.

Bài thuốc trị đau bụng, đầy bụng do hàn thấp tích trệ:

Mỗi thang thuốc bao gồm: 6gr thảo quả nướng, 10gr hậu phác, 10gr hoắc hương, 6gr thanh bì, 6gr bán hạ, 6gr thần khúc, 6gr cao lương khương, 4gr đinh hương, 4gr cam thảo, 10gr sinh khương, 10gr đại táo. Mỗi ngày sắc uống một thang trong vài ngày triệu chứng trên sẽ hết

Trị sốt rét: Mỗi lần dùng khoảng 2gr nhân thảo quả đem tán thành bột mịn rồi bọc trong miếng gạc sạch, trước khi lên cơn sốt rét thì đem nhét vào lỗ mũi.

Trị rối loạn tiêu hóa do ăn uống: Người bệnh có biểu hiện ăn không tiêu, đầy bụng, có cảm giác đau âm ỉ vùng thượng vị thì sử dụng bài thuốc sau: 6gr thảo quả nướng, 10gr thương truật, 10gr hậu phác, 10gr trần bì, 10gr sinh khương, 4gr cam thảo, 3 quả đại táo. Các vị thuốc này làm thành một thang thuốc sắc uống mỗi ngày một thang.

Trị hôi miệng: Những người hay bị hôi miệng có thể lấy quả thảo quả giã dập rồi ngậm, nuốt nước dần tình trạng hôi miệng sẽ giảm

Trị sốt rét kèm tiêu chảy: 10g thảo quả, 10gr kha tử, 7 lát gừng sống, 7 quả táo đen sắc cùng 300ml nước đến khi còn 200ml thì chia làm 3 lần uống trong ngày.

Thảo quả nên sử dụng thận trọng trong một số trường hợp như: Người bệnh có chứng âm huyết hư vì tính ôn táo của quả thảo quả sẽ khiến cho người bệnh tổn thương âm huyết.

Công dụng của thảo quả khi kết hợp với một số vị thuốc

-Thảo quả khi sử dụng kết hợp với tri mẫu có tác dụng trị chứng hàn nhiệt ngược. Hai vị thuốc này trái ngược nhau, một âm một dương, Thảo quả trị hàn ở thái âm, tri mẫu trị hỏa ở dương minh.

– Thảo quả và đậu khấu: Hai vị thuốc này có tác dụng tương đồng, có tác dụng chỉ khát, ôn vị, khứ hàn

– Theo đông y, thảo quả có vị cay, tính ôn táo nên có tác dụng trừ hàn thấp, ôn táo trung cung do đó thảo quả thường được sử dụng trong việc trừ hàn thấp ở tỳ vị.

– Thảo quả thường được sử dụng để trị chứng hàn thấp khí uất, sốt rét do chướng khí, dịch khí, thảo đậu khấu thường dùng để trị chứng vị suy, nôn mửa, đầy ngực, đầy bụng, đau bụng, đầy hơi.

Nếu không có kinh nghiệm sử dụng quả thảo quả trong việc điều trị bệnh thì nên tham khảo ý kiến của thầy thuốc.

 

QUẢ CÂY THẢO QUẢ
Đánh giá bài viết

Mọi câu hỏi thắc mắc của bạn sẽ được Trung tâm tư vấn MIỄN PHÍ

1. Gọi tới hotline (024) 625 439 82 hoặc (024) 625 439 83

2. Để lại < SỐ ĐIỆN THOẠI > liên hệ theo mẫu sau:

(Mọi thông tin cá nhân của bạn đều được bảo mật)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.